[tintuc]

Hội chứng đau nhức sọ mặt


1. ĐỊNH NGHĨA 
– Hội chứng đau nhức sọ mặt là nhóm các bệnh lý gây ra đau nhức vùng sọ, đáy sọ và vùng mặt.

2. NGUYÊN NHÂN 
-Do phân bổ dây thần kinh cảm giác sẽ phân ra hai vùng: Dây V (tam thoa) cảm giác các xoang mặt, vùng mặt, da đầu, đáy sọ. Dây IX, X chi phối cảm giác cho vùng họng và tai. Đau nhức sọ mặt do rất nhiều nguyên nhân gây ra.
-Đau dây V (nevralgie facial) thường gặp hơn dây IX-X.
-Các nguyên nhân viêm, nhiễm trùng, khối u: các tổn thương trong trung ương-sọ não hay các dây thần kinh ngoại biên: về mạch máu, các khối u trong nội sọ-não màng não ở vùng hành não (hội chứng Wallenberg) cầu não, vùng tuyến yên, vùng đỉnh xương đá (hội chứng Willis, Gradenigo), các bệnh lý cholesteatome, chordome, meningiome, kyste epidermoide, viêm xương, tắc mạch máu, phình mạch cảnh, viêm động mạch màng não mạn tính (hội chứng Raeder), khối u hậu nhãn cầu-sau ổ mắt (hội chứng Tolosa-Hunt), viêm tắc tĩnh mạch xoang hang (hội chứng đỉnh xương đá), khối u vòm mũi họng, hốc mắt-nguyên phát, thứ phát (hội chứng khe bướm), các nguyên nhân gây tăng áp lực nội sọ.
-Một số nguyên nhân thường gặp: trong tai mũi họng (viêm các hốc xoang mặt hội chứng, chuyên khoa mắt (nhiễm trùng ổ mắt), các nguyên nhân do răng hàm mặt (sâu răng, nha chu viêm, khối u,..). rối loạn vận mạch vùng mặt, đau đầu do huyết áp, do thay đổi thói quen sinh hoạt làm việc.

3. CHẨN ĐOÁN 
3.1. Chẩn đoán xác định

3.1.1. Lâm sàng
– Khai thác tiền sử các cơn đau, chú ý đến vị trí, tính chất đau, hoàn cảnh xuất hiện, mức độ, tiến triển và thoái triển.
– Thăm khám toàn diện, hệ thống vùng tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt. – Thăm khám thần kinh trung ương và thần kinh các dây sọ.
– Thăm khám vùng cổ (hạch, tuyến nước bọt, giáp cận giáp)
– Thăm khám toàn thân huyết áp, gan thận, các tuyến nội tiết…

3.1.2. Cận lâm sàng
– Các xét nghiệm tìm nguyên nhân gây đau trong tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt, sọ não: Các xét nghiệm cơ bản, đo điện cơ, điện não, soi đáy mắt, chụp CT, MRI. 3.2. Chẩn đoán phân biệt
– Quan trọng là tìm nguyên nhân gây đau từ các bệnh lý thực thể: Tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt, sọ não… và các rối loạn thần kinh thực vật, vận mạch đơn thuần.

4. ĐIỀU TRỊ 
4.1. Nguyên tắc điều trị
– Điều trị nội khoa cắt cơn đau kết hợp điều trị nguyên nhân gây đau.
4.2. Sơ đồ/phác đồ điều trị
– Điều trị nội khoa giảm cắt cơn đau (carbazepine-Tegretol, Di-Hydan) hoặc nhóm clonazepam (Rivotril).
– Điều trị ngoại khoa về thần kinh khi thất bại với nội khoa: Đốt nhiệt bao myelin các nhánh cảm giác đau dây V.
– Điều trị các nguyên nhân gây đau từ tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt, sọ não.

4.3. Điều trị cụ thể (nội khoa, ngoại khoa)
– Nội khoa cắt cơn đau: Tegretol (100mg/ ngày).
– Đốt nhiệt bao myelin dây V cảm giác (lỗ bầu dục- đường vào Hartel), đốt nhiệt và giải phóng bao hạch Gasser. 15/5/2018 Hội chứng đau nhức sọ mặt | Bác sĩ Tai mũi họng Hà Nội https://bstaimuihong.vn/hoi-chung-dau-nhuc-so-mat/ 3/3
– Điều trị các nguyên nhân gây đau nếu có như viêm nhiễm trùng, khối u trong nội sọ, mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng.

5. TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG 
– Phụ thuộc vào các nguyên nhân gây đau.
– Sử dụng thuốc nội khoa phải theo dõi tình trạng giảm tế bào máu.

6. PHÒNG BỆNH 
– Điều trị triệt để các nguyên nhân nội khoa hay ngoại khoa thuộc các chuyên khoa gây đau vùng đầu mặt cổ.

[/tintuc]

[tintuc]

1. ĐỊNH NGHĨA 
-Tuyến giáp là một tuyến nội tiết sản xuất hormon giáp (T3,T4). Bệnh lý u tuyến giáp khá đa dạng vì vậy bài viết này sẽ khu trú lại về ung thư tuyến giáp mà không đề cập về các u lành tính khác. Ung thư tuyến giáp trạng là khối u ác tính chỉ chiếm tỷ lệ 0,5 – 1%.

Ung thư tuyến giáp



2. NGUYÊN NHÂN 
– Các yếu tố nguy cơ, thuận lợi là: Tia phóng xạ (sau xạ trị), chế độ dùng Iod (vùng bướu cổ lưu hành có tỷ lệ ung thư cao hơn). Yếu tố di truyền. Ung thư trên một u giáp lành tính như thể nhân.

3. CHẨN ĐOÁN 
3.1. Chẩn đoán xác định
3.1.1. Lâm sàng
 – Dựa vào một số yếu tố dịch tễ học lâm sàng: Bệnh nhân nam giới, có bướu giáp thể nhân trước đó, đã bị tia xạ vùng cổ, gia đình có người đã bị ung thư giáp trạng.
– Thăm khám vùng cổ thấy khối u ở vùng trước giữa cổ, ở một thùy hay cả hai thùy, di động theo nhịp nuốt, cứng. Tiến triển lâu sẽ dính cố định ở vùng trước cổ.
– Khi dính, cố định có thể bị khàn tiếng (xâm lấn gây liệt dây thần kinh hồi qui). Có thể bị khó thở kiểu thanh quản do liệt cả hai dây hồi qui hay bị xâm lấn vào khí quản, thanh quản. Có thể gặp cả khó nuốt do u cố định ở vùng cổ hay xâm lấn thực quản. – Ngoài da có thể bị thâm nhiễm đỏ sần da cam, sùi, loét, chảy máu.
– Hạch cổ to cùng bên u hoặc cả hai bên, vị trí thường ở vùng cảnh thấp, thượng đòn.

3.1.2. Cận lâm sàng
– Chẩn đoán tế bào học (chọc hút bằng kim nhỏ).
 – Sinh thiết u tuyến để chẩn đoán mô bệnh học, hóa mô miễn dịch. – Sinh thiết lạnh trong mổ u tuyến giáp.
– Chẩn đoán mô bệnh học phân ra các thể sau: thể nang, thể hỗn hợp nhú và nang, thể tủy, thể không biệt hóa, thể biệt hóa, tế bào Hurtle. Có thể gặp loại sarcome.
– Chẩn đoán hình ảnh u tuyến qua siêu âm, CT, MRI, chụp nhấp nháy đồ với I131.
– Chẩn đoán sinh hóa: Định lượng Calcitonin (do tế bào C tiết ra chỉ có trong ung thư thể tủy). Định lượng FT3, FT4, TSH (chẩn đoán phân biệt với bệnh Basedow).
– Chẩn đoán giai đoạn TNMS.

3.2. Chẩn đoán phân biệt
-Cần phân loại với các thể u lành tính (u nang, bướu cổ đơn thuần, bướu thể nhân dễ tiến triển thành ung thư), coi là tiền ung thư, hoặc đã có ung thư Basedow.
– Và thứ phát sau các ung thư vùng thanh quản hạ họng lan tràn đến.

4. ĐIỀU TRỊ 
4.1. Nguyên tắc điều trị
-Về nguyên tắc chung là phẫu thuật triệt để
– rộng, nạo vét hạch cổ, chú ý nhóm hạch hồi qui. Có điều trị bổ sung bằng nội tiết, xạ trị.

4.2. Sơ đồ/phác đồ điều trị
-Phẫu thuật: Cắt bỏ tuyến giáp toàn bộ, hoặc một thùy bên, kèm nạo vét hạch cổ.
-Bổ sung điều trị nội tiết (T4 – ức chế tuyến yên tiết TRH – Thyrotropin Releating Hormone) thường dùng Levothyroxin (T4) hay Livothyroxin (T3).
-Điều trị hóa chất: Theo đơn hóa trị (Doxorubicin – Adriamycin), hoặc phối hợp với Vincristine, Bleomycine.
-Iod phóng xạ với I131.
-Tia xạ từ ngoài.  Điều trị cụ thể (nội khoa, ngoại khoa) -Với thể biệt hóa: phẫu thuật, nội tiết, xạ tri bằng I131 (RAI – Radioactive – Iodine khi còn sót u, có di căn xa, xâm lấn tại chỗ, không được điều trị nội tiết). Hoặc xạ ngoài (áp dụng cho tiền phẫu hoặc khi u không có độ tập trung Iod khi chụp nhấp nháy đồ – Scintigraphie).
-Với thể tủy: phẫu thuật, xạ ngoài. Điều trị nội tiết ít dùng cho thể tủy (Thể tủy thường có tính di truyền gia đình). -Với thể không biệt hóa: ít có khả năng phẫu thuật, nên hóa xạ trị sẽ được chỉ định. -Với ung thư thể nhú và nang: thường gặp ở trẻ em và tuổi thanh thiếu niên. Phẫu thuật là hàng đầu, sau đó tiếp tục điều trị nội tiết. -Với thể u lympho biểu hiện ở tuyến giáp: thường gặp là u lympom không Hodgkin sẽ có chỉ định hóa xạ trị kết hợp.

5. TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG 
5.1. Tiên lượng
-Phụ thuộc vào tuổi (>45, xấu). Giới (nam xấu hơn nữ). Kích thước u (>4, xâm lấn vỏ bao giáp, xấu). Thể mô bệnh học (thể tủy, không biệt hóa xấu hơn thể nhú và nang). Có di căn hạch cổ xấu. Đã có di căn xa xấu, thể có nhiều u xấu, bệnh nhân đã bị xạ trị xấu. 5.2. Biến chứng – Các biến chứng của phẫu thuật tuyến giáp và nạo vét hạch cổ.

– Các biến chứng của xạ trị và hóa chất.

6. PHÒNG BỆNH 
– Cần phát hiện sớm, nhất là điều trị sớm các u lành tính giáp trạng, thể nhân.
– Sử dụng đủ Iode có thể làm giảm tỷ lệ mắc ung thư giáp trạng.
– Tránh xạ trị vùng tuyến giáp nếu có thể, để giảm nguy cơ ung thư giáp


[/tintuc]

[tintuc]

I. ĐẠI CƯƠNG 
– Vết thương vùng cổ là những tổn thương hở ở vùng cổ gây thông thương giữa vùng tổn thương với môi trường bên ngoài.
– Do vùng cổ là nơi chứa đựng các bộ phận quan trọng như các mạch máu lớn, đường thở nên tổn thương ở vùng này có thể gây tử vong nhanh chóng nếu không được xử trí kịp thời.
– Thanh quản và khí quản là cơ quan nhô ra phía trước nhiều nhất nên dễ bị thương tổn nhất. – Nguyên nhân: cắt cổ tự tử, dao đâm, trâu húc, tai nạn giao thông, hoả khí…

Xử trí vết thương vùng cổ


* Tổn thương giải phẫu bệnh
– Cắt cổ tự tử bằng dao: vết rạch ngang, hơi chếch về một bên. Màng giáp móng và sụn giáp thường bị cắt đứt. Đôi khi sụn nhẫn, sụn phễu, thực quản cũng bị thương tổn. Động mạch cảnh ít khi bị chạm đến.
– Nếu trâu húc: lỗ thủng rộng, tổ chức xung quanh dập nát.
– Đạn bắn từ xa, có lỗ vào lỗ ra, ít dập nát, lỗ ra to hơn lỗ vào. Vết thương chột: dừng lại trong thanh quản hoặc ở thành thanh quản.
– Đạn bắn gần: một phần thanh quản bị vạt đi.
– Lựu đạn, bom: nhiều vết thương ở cùng một vùng, thường nặng, dễ viêm nhiễm.
– Do tai nạn: vết thương bẩn, có thể giập nát, mất chất, có thể tổn thương các lớp khác nhau.

II. CHẨN ĐOÁN
 – Chẩn đoán vết thương vùng cổ thường không khó, quan trọng là phải đánh giá được mức độ tổn thương.
1. Triệu chứng lâm sàng
– Trường hợp nặng: Bệnh nhân ngất đi trong thời gian ngắn, sau đó tỉnh dậy, trong tình trạng choáng: mặt tái xanh, mạch nhanh yếu, huyết áp hạ…
1.1. Vết thương phần mềm
– Gồm nhiều mức độ khác nhau: từ xây xước, rách da, mất chất da, cơ. Vết thương có thể bẩn, có dị vật như đất đá, tre nứa…
– Vết thương có thể đang chảy máu hoặc đã nhiễm trùng.

1.2. Chấn thương hở thanh quản
– Chảy máu: nhiều hoặc ít, nếu nhiều có thể gây sốc, tràn vào đường thở gây ngạt thở.
– Ho: ít hoặc nhiều, liên tục, có khi yếu dần đến “lụt khí phế quản” bởi máu và nước bọt.
– Khó thở: do máu tràn vào đường thở, di lệch các sụn, hoặc xuất hiện muộn do phù nề hoặc tràn khí dưới da.
– Phì phò khí máu: khi hít thở, ho thấy bọt lẫn máu qua vết thương. Nếu thấy nhiều nước bọt qua vết thương gợi ý tổn thương phối hợp hạ họng, thực quản.
– Rối loạn tiếng nói: khàn đến mất tiếng.
– Bệnh nhân nuốt đau. Rối loạn về nuốt khi tổn thương nếp thanh thiệt, hạ họng.
– Nhìn: cổ sưng to do tràn máu, tràn khí. Tràn khí có thể lan rộng đến mặt, ngực hoặc trung thất. Tràn khí gây chèn ép mạch máu, thần kinh, đưa viêm nhiễm vào trung thất.
– Sờ: tìm điểm đau, tính toàn vẹn của khung sụn.

1.3. Chấn thương hở khí quản
– Giống chấn thương hở thanh quản nhưng có thể không thay đổi giọng nói nếu tổn thương nhỏ.
– Tuyến giáp có thể đứt gây chảy máu kéo dài.

2.1.4. Vết thương mạch máu
– Chảy máu nhiều qua vết thương hoặc tạo thành khối máu tụ.
– Với những thương tổn mạch máu lớn, máu thường chảy ồ ạt qua vết thương hoặc tràn vào đường thở khi có tổn thương đường thở kèm theo.
2.1.5. Vết thương thực quản
– Ít gặp do được che chắn phía trước bởi khí quản.
– Triệu chứng cơ năng không điển hình, dễ lẫn với những biểu hiện tổn thương khác.
– Nếu bệnh nhân vẫn nuốt  nếu có, ngoài ra có thể đánh giá được phần nào sự thông thoáng của thanh khí quản.
– Trường hợp nghi ngờ tổn thương họng, thực quản có thể sử dụng chất cản quang tan trong nước.
– CT vùng cổ: là một xét nghiệm an toàn, không xâm lấn, cho phép đánh giá tổn thương thanh khí quản với độ chính xác cao.
– Siêu âm vùng cổ: thường sử dụng khi nghi ngờ khối máu tụ. Siêu âm doppler để đánh giá thương tổn mạch.

III. ĐIỀU TRỊ 
1. Cấp cứu
– Chống ngạt thở
– Nếu thanh quản hoặc khí quản bị rách, dập, bệnh nhân ngạt thở phải lập tức đút một ống cao su vào thanh quản qua chỗ vết thương cho bệnh nhân thở.
– Mở khí quản cấp cứu trong các trường hợp: khó thở, rách niêm mạc rộng, chấn thương di lệch nhiều trên CT, tràn khí dưới da nhiều.
– Nên rạch da rộng để cầm máu. Thở oxy.
– Chống choáng
– Chống nhiễm trùng

2. Điều trị nội khoa và theo dõi
– Chỉ định: những tổn thương nhỏ có thể tự khỏi và không để lại di chứng như phù nề, tụ máu nhỏ, rách nhỏ ở dây thanh…
– Điều trị:
+ Chế độ sinh hoạt: nghỉ ngơi tại giường, đầu cao, hạn chế nói, khí dung…
+ Corticoid đường toàn thân: sử dụng trong những ngày đầu sau chấn thương nhằm chống viêm, giảm phù nề, hạn chế sự hình thành sẹo hẹp và u hạt…
+ Kháng sinh: không thực sự cần thiết trong các tổn thương nhỏ tuy nhiên lại cần trong các tổn thương niêm mạc lớn, bộc lộ sụn.
+ Chống trào ngược: tác dụng chống sẹo hẹp và tạo u hạt.

3. Phẫu thuật
– Phải đảm bảo che kín sụn đề phòng nhiễm trùng.
– Đường vào có thể sử dụng ngay miệng vết thương, có thể rạch rộng thêm hoặc đường rạch đứng giữa.
– Vết thương ngoằn ngoèo, nham nhở, nhiều lỗ: rạch cổ rộng để thăm dò, cầm máu, gắp dị vật, khâu lại theo đúng bình diện giải phẫu. Trong khi tìm dị vật, phải dựa vào phim và phẫu thuật trên bàn Xquang.
– Tổn thương đường thở phức tạp đặt dụng cụ đỡ như: ngón tay găng, ống nong Aboulker, Montgomery, ống chữ T. Ống nong đặt từ sụn phễu, qua sụn nhẫn, đến các vòng sụn khí quản  đầu tiên. Thời gian lưu ống 2 tuần.
– Tách rời sụn nhẫn và khí quản: có nguy cơ tổn thương dây hồi quy, sẹo hẹp hạ thanh môn.
– Vỡ sụn nhẫn không di lệch: khâu đơn thuần hai bình diện xuyên sụn ngoài niêm mạc và màng sụn. – Vỡ sập cung trước: khâu phục hồi, ghép phủ nếu mất niêm mạc, đặt stent.
– Nếu vỡ sụn khí quản: Khâu ngay bằng chỉ không gây xơ catgut, chromic, mũi rời bên ngoài. Trương hợp tổn thương đứt rời có thể khâu nối tận tận. – Nếu không đặt ống nong nên rút canule càng sớm càng tốt. – Mở thông dạ dày để đảm bảo dinh dưỡng trong trường hợp tổn thương thủng thực quản.

IV. DIỄN BIẾN VÀ TIÊN LƯỢNG 
– Vết thương nhỏ, đi ngang thường lành nhanh chóng.
– Vết thương rộng, mất chất, hoặc dập nát kèm thương tổn bộ phận kế cận thường gây nhiều nguy hiểm.
– Bệnh nhân có thể chết vì chảy máu thứ phát do vỡ mạch, sốc, nhiễm khuẩn, tràn khí gây ngạt thở.
– Ảnh hưởng đến chức năng nói do rách thanh đai, liệt cơ, cứng khớp nhẫn phễu.
– Bệnh nhân khó thở thanh quản do sẹo hẹp.



[/tintuc]

[tintuc]


1. ĐỊNH NGHĨA 
– Là tình trạng phù nề các cấu trúc của thanh thiệt gây ra tình trạng tắc nghẽn của hạ họng và vùng thượng thanh môn do các nguyên nhân khác nhau.

Viêm phù nề thanh thiệt cấp



2. NGUYÊN NHÂN 
* Có thể chia thành hai nhóm nguyên nhân chính:
– Nguyên nhân do nhiễm trùng:
+ Ở người lớn hay gặp nhất là do Haemophilus influenzae (25%), tiếp theo là Streptococcus pneumoniae. Ngoài ra viêm phù nền thanh thiệt cấp cũng có thể do virus gây nên như herpes simplex virus (HSV) và nấm Candida, Aspergillus.
+ Ở trẻ em Haemophilus influenzae typ B là nguyên nhân chính gây bệnh (>90%).

– Nguyên nhân không do nhiễm trùng:
+ Viêm phù nề thanh thiệt cấp tính do nhiệt xảy ra sau khi nuốt các đồ ăn quá nóng hoặc hít phải hơi nóng (như coain hoặc cần sa được đốt nóng). Viêm phù nề thanh thiệt cấp còn có thể xảy ra sau khi bị côn trùng cắn gây phản ứng dị ứng phù nề. Dị vật hạ họng cũng có thể dẫn đến viêm phù nề thanh thiệt cấp tính. Ngoài ra, một số trường hợp xạ trị vùng đầu cổ cũng có thể gây ra tình trạng viêm phù nề thanh thiệt.

3. CHẨN ĐOÁN 
3.1. Chẩn đoán xác định
3.1.1. Lâm sàng 1
* Triệu chứng toàn thân: Sốt cao nếu do nguyên nhân nhiễm trùng. Đối với các trường hợp không phải do nguyên nhân nhiễm trùng thì có thể có sốt nhẹ hoặc không sốt.
* Triệu chứng cơ năng: Chủ yếu là đau họng và nuốt đau. Tiếp theo có thể có các triệu chứng: tăng tiết đờm dãi, có thở rít và tắc nghẽn đường hô hấp. 50% số bệnh nhân có giọng ngậm hột thị. Bệnh nhân thường ít khi ho, đây là điểm để phân biệt với bệnh bạch hầu thanh quản trẻ em, viêm thanh khí phế quản.
* Triệu chứng thực thể:
– Thăm khám quan trọng nhất là soi thanh quản, thường dùng gương hay ống soi mềm. Hiện nay, phương tiện thăm khám tốt và an toàn nhất khi nghi ngờ viêm phù nề thanh thiệt cấp tính là sử dụng bộ nội soi thanh quản ống mềm. – Hình ảnh trên nội soi có thể thấy:
+ Phù nề vùng sụn nắp, nẹp phễu thanh thiệt và sụn phễu. Sụn nắp có thể viêm nề nhiều tạo hình ảnh như “mõm cá mè”.
+ Có thể có viêm loét hay viêm mủ thanh thiệt. Áp xe thanh thiệt cũng có thể gặp.
+ Có thể gặp một số trường hợp phù nề dây thanh và băng thanh thất. 3

.1.2. Cận lâm sàng
– Xét nghiệm máu: Bạch cầu đa nhân trung tính thường tăng cao, đồng thời tăng protein C phản ứng. – Xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn: từ bệnh phẩm máu có kết quả dương tính 0 – 17%, trong dịch họng 10 – 33%, trong dịch lấy trực tiếp từ sụn thanh thiệt là 75%. Tuy nhiên việc lấy bệnh phẩm trong lúc bệnh nhân khó thở không được chỉ định.
– Chụp phim Xquang cổ nghiêng: + Cần được tiến hành khẩn trương khi bệnh nhân không có tình trạng khó thở cấp tính và được nhân viên y tế đi cùng. Tại phòng chụp cũng cần có các phương tiện cấp cứu được chuẩn bị sẵn sàng. + Hình ảnh Xquang cổ nghiêng cho thấy hình ảnh lên của cả sụn nắp và nẹp phễu thanh thiệt, tạo thành dấu ấn “ngón tay”. Đa phần dây thanh và khí quản bình thường, chỉ một số ít trường hợp tổn thương viêm lan tới cả thanh môn và hạ thanh môn, tạo nên hình phễu trên phim Xquang thẳng. – Siêu âm: Trên siêu âm, viêm phù nề thanh thiệt cấp tính có hình ảnh giống chữ “P” khi siêu âm xuyên qua màng giáp móng.

3.2. Chẩn đoán phân biệt
– Viêm phù nề thanh thiệt cấp tính cần chẩn đoán phân biệt với viêm họng do Streptococcus, bạch hầu, áp xe quanh amidan, bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (infectious mononucleosis), và đặc biệt dễ nhầm với viêm thanh quản cấp tính do virus (croup).
– Viêm phù nề thanh thiệt cấp tính về lâm sàng khác với croup ở diễn tiến ngày càng xấu đi, không có tiếng ho ông ổng đặc trưng của croup, và tình trạng viêm sưng đỏ của thanh thiệt (trong trường hợp croup, thanh thiệt chỉ đỏ nhưng không sưng).

4. ĐIỀU TRỊ 
4.1. Nguyên tắc điều trị
– Kiểm soát đường thở, có thể mở khí quản hoặc đặt nội khí quản khi bệnh nhân có trình trạng khó thở từ độ II. Tiếp theo là điều trị nội khoa hay ngoại khoa tùy theo các nguyên nhân.
4.2. Phác đồ điều trị
4.3. Điều trị cụ thể
– Điều trị ngoại khoa:
+ Để kiểm soát đường thở, có hai phương pháp vẫn được áp dụng song song hiện nay là đặt nội khí quản và mở khí quản. Thông khí qua mask hay đặt nội khí quản được ưu tiên trong các biện pháp kiểm soát đường thở. Tuy nhiên, đây vẫn là thách thức lớn đối với các bác sỹ gây mê hồi sức vì nguy cơ đặt ống khó. Và nếu thất bại khi đặt ống có thể có nguy cơ tử vong do co thắt. Khi đó, bệnh nhân cần mở màng nhẫn giáp hay mở khí quản cấp cứu. Nhìn chung, lựa chọn phương pháp nào cần dựa vào từng trường hợp bệnh nhân cụ thể, điều kiện trang thiết bị cũng như kinh nghiệm và sự phối hợp giữa bác sỹ tai mũi họng và bác sỹ gây mê.
– Điều trị nội khoa:
+ Kháng sinh Cephalosporin thế hệ III hoặc Amoxicillin + acid clavulanic là những kháng sinh đầu tay trong điều trị viêm phù nề thanh thiệt cấp tính. Liệu trình điều trị có thể từ 7 đến 10 ngày
+ Vai trò của corticoid: có vai trò quan trọng trong việc giảm phù nề của đường thở.
+ Có thể dùng dưới dạng tiêm tĩnh mạch kết hợp với khí dung.

5. TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG 
– Diễn biến viêm phù nề thanh thiệt cấp thường tiến triển thay đổi rất rõ ràng. Có hai xu hướng: (1) tiến triển nhanh tới tắc nghẽn đường thở gây tử vong nếu không được xử trí can thiệp kiểm soát đường thở, (2) tiến triển nhẹ dần đi nếu không có tắc nghẽn đường thở và các triệu chứng sẽ mất dần sau vài ngày. Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ tắc nghẽn đường thở trong viêm phù nề thanh thiệt cấp đã được nhắc đến trong y văn là: tuổi cao, đái tháo đường, khởi bệnh nhanh (trong vòng 16 giờ), thay đổi giọng nói, ứ đọng xuất tiết, mạch nhanh, bạch cầu trong máu tăng cao, có ổ áp xe.

 6. PHÒNG BỆNH 
– Phòng tránh viêm mũi họng bằng cách thường xuyên vệ sinh mũi họng.
– Tránh ăn các đồ ăn quá nóng.



[/tintuc]

[tintuc]

1. ĐỊNH NGHĨA – Nấm thanh quản là một hình thái viêm thanh quản đặc hiệu do các vi nấm gây ra. – Thông thường có bốn loại nấm có thể gây bệnh ở thanh quản là: Aspergillus, Candida, Histoplasma và Blastomyces. Nhưng do phân bố về địa lí, ở Việt Nam thông thường chỉ gặp hai loại nấm gây bệnh ở thanh quản là: Aspergillus và Candida.

Nấm thanh quản


2. NGUYÊN NHÂN
– Do nhiễm các loại nấm Aspergillus và Candida ở thanh quản. Thông thường các loại nấm trên có trong môi trường không khí, có thể hít vào miệng họng nhưng không gây bệnh ở thanh quản, khi nào gặp các yếu tố thuận lợi sẽ gây bệnh ở thanh quản như: các yếu tố về môi trường: mất cân bằng sinh thái, chuyển dịch vùng khí hậu, suy thoái môi trường, thiên tai, lụt lội. Các yếu tố làm suy giảm sức đề kháng của con người như: điều trị hoá chất, tia xạ, kháng sinh phổ rộng, corticoid, đặc biệt bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV-AIDS), số bệnh nhân cấy ghép phủ tạng phải dùng thuốc ức chế miễn dịch, các bệnh do rối loạn nội tiết như tiểu đường, suy tuyến giáp.

3. CHẨN ĐOÁN VIÊM THANH QUẢN DO NẤM 
– Phát hiện lâm sàng là khâu quan trọng đầu tiên, từ đó cho phép định hướng tới các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết như xét nghiệm vi sinh, xét nghiệm mô bệnh học, miễn dịch học hay sinh học phân tử để cho chẩn đoán xác định.
3.1. Chẩn đoán xác định
3.1.1. Lâm sàng
* Các đặc điểm dịch tễ lâm sàng:
– Lưu ý đặc biệt ở tuổi lao động.
– Nghề nghiệp có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là làm ruộng.
– Thường có tỉ lệ mắc bệnh cao ở cuối mùa hạ và đầu mùa thu.
– Các yếu tố có liên quan rõ rệt đến bệnh là sử dụng kháng sinh, corticoid, hoặc sau khi bị cảm cúm.

* Triệu chứng cơ năng: Các triệu chứng cơ năng của viêm thanh quản do nấm thường nghèo nàn, không đặc hiệu nên dễ nhầm với các bệnh khác của thanh quản.
– Khàn tiếng (dysphonia) là triệu chứng dễ nhận biết và quan trọng nhất. Khàn tiếng bắt đầu từ nhẹ tăng dần đến mất tiếng (aphonia), khi phát âm chỉ nghe thấy thều thào, nghe không rõ âm sắc.
– Ho: Thường ho thành từng cơn dài do ngứa họng, ho khan ít khi có đờm, ho cũng tăng lên theo thời gian bị bệnh.
– Ngứa họng: Thường có cảm giác ngứa sâu trong họng làm cho bệnh nhân ho và cảm giác khó chịu. – Khó thở thanh quản: Rất hiếm gặp do màng giả dày, xốp lan rộng ở thanh quản, kèm theo hiện tượng viêm sung huyết và phù nề làm cho khẩu kính thanh quản bị hẹp lại, gây cản trở hô hấp.

* Triệu chứng toàn thân: Thể trạng chung không thay đổi nhiều, sốt hiếm gặp. Nhìn chung các dấu hiệu cơ năng thường nghèo nàn, không đặc hiệu nên phải dựa vào khám lâm sàng để định hướng cho chẩn đoán.

* Triệu chứng thực thể: Chủ yếu là dựa vào khám thanh quản bao gồm: – Soi thanh quản gián tiếp: Phát hiện thấy màng giả ở thanh quản là dấu hiệu lâm sàng quan trọng nhất để nghĩ đến viêm thanh quản do nấm.
– Nội soi thanh quản hay soi thanh quản trực tiếp:
+ Khi soi thanh quản phát hiện thấy màng giả ở thanh quản là dấu hiệu quan trọng nhất trong chẩn đoán bệnh.
+ Tuỳ theo mức độ nặng hay nhẹ mà màng giả có thể khu trú hoặc lan tràn, dày hay mỏng. + Màng giả có thể khu trú ở một phần dây thanh, phủ dọc theo dây thanh một bên, ở mép trước, mép sau, khe liên phễu, băng thanh thất hoặc thanh thất Morgagni.
+ Màng giả có thể khu trú ở một vùng của thanh quản, cũng có thể lan tràn ra toàn bộ thanh quản, lan đến tiền đình thanh quản, thanh thiệt, lan ra toàn bộ băng thanh thất, dây thanh, hạ thanh môn, có khi lan tới khí quản và phế quản.
+ Phía dưới màng giả là lớp tổ chức hạt sùi dễ chảy máu, có chỗ là tổ chức loét, hoại tử nông. + Thường không tổn thương lớp cơ và lớp sụn thanh quản.
+ Mặc dù có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ và ngay cả nhận biết được các yếu tố nguy cơ vẫn chưa thể coi là chẩn đoán xác định, cần phải lấy được bệnh phẩm nơi thương tổn làm các xét nghiệm về vi nấm, chỉ khi nào các xét nghiệm này dương tính mới cho chẩn đoán xác định.

3.1.2. Chẩn đoán cận lâm sàng
– Để xác định viêm thanh quản do nấm cần phải dựa vào một hoặc nhiều xét nghiệm như xét nghiệm vi nấm, xét nghiệm mô bệnh học, xét nghiệm huyết thanh học, xét nghiệm sinh học phân tử. Tuy nhiên để các xét nghiệm này có độ chính xác cao, việc lấy bệnh phẩm cũng đòi hỏi phải thật chính xác, cần phải lấy bệnh phẩm ở nơi có tổn thương (màng giả và loét, sùi, hoại tử) để làm các xét nghiệm.

3.1.2.1. Xét nghiệm vi nấm
– Soi trực tiếp: Là phương pháp cho kết quả nhanh nhưng chưa thật chính xác. Khi thấy sợi nấm hoặc các tế bào nấm men nảy chồi cùng với các sợi nấm và các sợi nấm giả thì có thể xác định đó là nấm gây bệnh, nếu chỉ thấy bào tử nấm thì không kết luận đó là nấm gây bệnh.
– Nuôi cấy nấm được coi là xét nghiệm xác định nếu thấy có khóm nấm thuần nhất mọc. Nuôi cấy còn cho phép định danh nấm gây bệnh, làm cơ sở cho việc lựa chọn thuốc điều trị. Có hai giống nấm thường gây bệnh ở Trung Quốc là Aspergillus và Candida.

3.1.2.2. Xét nghiệm mô bệnh học – Xét nghiệm mô bệnh học vừa có giá trị chẩn đoán xác định bệnh, vừa có giá trị chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của thanh quản, Vì vậy không nên thực hiện xét nghiệm này riêng rẽ mà phải kết hợp với các xét nghiệm vi nấm.
– Khi thấy có tổn thương loạn sản tế bào cần có kế hoạch theo dõi lâu dài để phát hiện sớm ung thư thanh quản.

3.2. Chẩn đoán phân biệt
3.2.1. Lao thanh quản
– Tổn thương lao thanh quản là tổn thương đa hình thái gồm loét, sùi, hoại tử, tổn thương hay gặp ở vùng mép sau. Lấy tổn thương soi tươi xác định vi khuẩn lao hoặc sợi nấm. Có thể sinh thiết để chẩn đoán phân biệt.

3.2.2. Ung thư thanh quản
– Hình thái tổn thương là sùi, loét, thâm nhiễm, khi tổn thương lan tới mép sau thì sẽ cố định dây thanh bên tổn thương. Chẩn đoán xác định dựa vào kết quả mô bệnh học.

4. ĐIỀU TRỊ NẤM THANH QUẢN 
– Nguyên tắc: kết hợp điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân.
4.1. Điều trị tại chỗ
– Bóc tách gỡ bỏ màng giả để loại trừ nhanh tác nhân gây bệnh nhằm giảm liều thuốc, thời gian điều trị và phục hồi nhanh khả năng phát âm.
– Có thể chấm thuốc kháng sinh kháng nấm tại chỗ thanh quản, tuy nhiên thao tác này khó thực hiện trên các bệnh nhân có phản xạ thanh quản nhiều.

4.2. Điều trị toàn thân: đóng vai trò chủ yếu.
– Sử dụng kháng sinh kháng nấm đường uống có hiệu quả đối với những trường hợp nấm thanh quản đơn thuần, không nằm trong bệnh cảnh suy giảm miễn dịch toàn thân.
– Đối với viêm thanh quản do Aspergillus: dùng Itraconazol 200mg/ngày, thời gian trung bình 2-6 tuần. Kiểm tra tiến triển bệnh hàng tuần để quyết định thời gian điều trị.
+ Đối với viêm thanh quản do Candida: Có thể dùng Itraconazol đường uống như điều trị nấm Aspergillus. Cũng có thể dùng Fluconazol 150mg (viên) trong 2 ngày đầu, một viên 150mg cho các tuần tiếp theo, với thời gian điều trị trung bình 2-4tuần. Nên xét nghiệm men gan sau mỗi 2 tuần điều trị, nếu men gan tăng thì cần dùng thêm thuốc fortex hoặc eganeen. Nếu men gan tăng cao thì phải ngừng thuốc kháng sinh chống nấm, hội chẩn với chuyên gia tiêu hóa để điều trị tiếp.

5. TIÊN LƯỢNG VÀ BIẾN CHỨNG 
– Nấm thanh quản nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng phác đồ có thể khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng, không tái phát.
– Nếu phát hiện muộn hoặc không được điều trị, nấm có thể lan xuống phế quản, phổi hoặc lan lên họng, hạ họng có thể gây tử vong.
– Đối với những trường hợp kết quả mô bệnh học có hiện tượng loạn sản tế bào, cần có sự theo dõi định kì để phát hiện sớm ung thư thanh quản.

6. PHÒNG BỆNH 
– Tránh lạm dụng dùng kháng sinh và corticoid.
– Khi làm việc trong môi trường khói bụi cần đeo khẩu trang.
– Khi có khàn tiếng trên 2 tuần cần được khám bởi bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán chính xác nguyên nhân khàn tiếng.


[/tintuc]

[tintuc]




  1. VTQ xuất tiết thông thường
  2. VTQ cúm
  3. Viêm thanh thiệt phù nề



VTQ xuất tiết thông thường
Nguyên nhân thường do vi rút, hay gặp vào mùa rét. Điều kiện thuận lợi để bệnh phát sinh thường là do nhiễm lạnh.

1. Triệu chứng

  • Cơ năng

Khởi phát thường là viêm nhiễm vùng mũi họng: nuốt đau rát, khô miệng, chảy mũi nhầy
Tiếng nói trở nên khàn và có khi mất hẳn

Ho khan hoặc có xuất tiết trắng nhầy

  • Toàn thân

Thường nghèo nàn, bệnh nhân có cảm giác ớn lạnh, đau mình mẩy mỏi mệt

  • Thực thể: Khám thanh quản thấy
  • Niêm mạc thanh quản xung huyết: ở 2 dây thanh, băng thanh thất, tiền đình thanh quản.
  • Lớp hạ niêm mạc bị thâm nhiễm gây phù nề thanh thiệt, phù nề sụn phễu và băng thanh thất.
  • Bán liệt các cơ căng (cơ giáp phếu) và cơ khép (cơ liên phễu) => khi phát âm thanh môn hở hình thoi.
  • Các triệu chứng trên kéo dài vài ngày rồi giảm dần nhưng tiếng nói thường phục hồi chậm (sau 5-7 ngày)



2. Điều trị

  • Kiêng nói
  • Điều trị triệu chứng:
  • Giảm ho
  • Làm thuốc thanh quản hoặc khí dung



VTQ cúm
Nguyên nhân do vi rút cúm hoặc vi rút kết hợp với các vi khuẩn gây viêm đường hô hấp trên. Triệu chứng lâm sàng phong phú và thay đổi tùy theo loại vi khuẩn phù hợp, theo sức đề kháng của bệnh nhân và theo từng giai đoạn của bệnh.
1. Thể xuất tiết
VTQ cúm giống với viêm thanh quản xuất tiết thông thường, thường gặp trong đợt dịch cúm
Sốt và mệt mỏi kéo dài. Triệu chứng bán liệt thanh quản chậm hồi phục.

2. Thể phù nề:
Thường do thể viêm xuất tiết tiến triển thành: sụn phễu và thanh thiệt phù nề niêm mạc căng mọng đỏ, mất bóng. Bệnh nhân thường nuốt rất đau và đôi khi có khó thở. Thể này cần chẩn đoán phân biệt với lao thanh quản.


3. Thể hoại tử:

  • Ít gặp thường gặp ở người có sức đề kháng giảm sút, suy giảm miễn dịch.
  • Viêm nhiễm không khu trú ở vùng niêm mạc và hạ niêm mạc mà lan xuống các lớp sâu: màng sụn bị viêm và hoại tử, viêm nhiễm có thể lan rộng tới các tổ chức liên kết lỏng lẻo ở vùng cổ
    • Cơ năng:
  • Bệnh nhân nói khó khàn tiếng hoặc mất hẳn tiếng
  • Nuốt khó và nuốt đau
  • Có thể có khó thở thanh quản
    • Toàn thân:
  • Hội chứng nhiễm trùng nặng
    • Thực thể:
  • Thanh quản phù nề viêm loét và có giả mạc che phủ
  • Tiên lượng xấu


4. Điều trị


  • Thể nhẹ điều trị như VTQ xuất tiết
  • Trường hợp có viêm tấy và phù nề dùng kháng sinh: kết hợp với Corticoides, giảm viêm
  • Khí dung và làm thuốc thanh quản.


Viêm thanh thiệt phù nề
1. Triệu chứng

  • Cơ năng


Nuốt đau và nuốt vướng
Có thể có khó thở thanh quản

  • Thực thể

Soi hạ họng thanh quản thất thanh thiệt sưng nề căng mọng như mõm cá mè, che kín gần toàn bộ tiền đình thanh quản. niêm mạc thanh thiệt xung huyết đỏ.

2. Điều trị Corticoides tiêm và khí dung


[/tintuc]

[tintuc]

1. ĐỊNH NGHĨA
– Ngạt mũi là một trong những triệu chứng thường gặp nhất, không chỉ trong các bệnh mũi xoang mà trong nhiều trường hợp, đây chỉ là rối loạn cơ năng thông thường.
– Ngạt mũi có thể gặp ở một hoặc hai hốc mũi, có thể thay đổi từng lúc, từng thời kỳ, có thể chỉ ở mức độ nhẹ gây khó chịu nhưng cũng có thể tới mức độ nặng gây thiếu oxy, ngạt thở (chủ yếu ở hài nhi), có thể đơn thuần nhưng thường kèm theo đau vùng mặt, chảy mũi, giảm ngửi, hắt hơi…


Ngạt mũi


2. NGUYÊN NHÂN
2.1. Trẻ sơ sinh
– Dị tật bẩm sinh: tịt lỗ mũi sau cả hai bên, ngạt mũi xuất hiện ngay sau khi sinh.
– Viêm mũi do lậu cầu (mẹ gây nhiễm cho con), thường xuất hiện sau khi sinh 24 – 48 giờ.
2.2. Hài nhi
– Dị tật bẩm sinh: tịt lỗ mũi sau một hoặc hai bên không hoàn toàn.
– V.A quá phát: gây ngạt mũi thường xuyên, tăng lên trong những đợt viêm nhiễm cấp tính.
– Viêm mũi họng cấp tính.
2.3. Trẻ em
– V.A quá phát rất thường gặp, ngạt mũi tăng rõ khi có tình trạng viêm nhiễm cấp tính.
– Viêm mũi xoang cấp và mạn tính, thường kèm theo chảy mũi dịch nhầy hay dịch mủ.
– Dị vật: thường ngạt mũi đột ngột một bên, sau đó xuất hiện chảy mũi, dịch mủ thối một bên.


2.4. Trẻ lớn và người lớn
2.4.1. Viêm mũi cấp và mạn tính
– Viêm mũi quá phát gây ngạt mũi liên tục.
– Viêm mũi dị ứng: từng đợt theo mùa, có yếu tố dị nguyên.
– Viêm mũi vận mạch: từng lúc, thay đổi từng bên mũi.
2.4.2. Viêm xoang cấp và mạn tính
– Ngạt mũi liên tục khi có thoái cuốn mũi, đặc biệt là cuốn mũi giữa.
2.4.3. Dị hình vách ngăn mũi
– Lệch vẹo, gai, mào vách ngăn mũi.
2.4.4. Chấn thương mũi
– Sập, lệch sống mũi, di chứng sẹo dính giữa cuốn mũi giữa và vách ngăn…
2.4.5. Khối u
– U lành tính: u xơ vòm mũi họng, polyp mũi.
– U ác tính: ung thư sàng hàm, ung thư vòm mũi họng…

3. CHẨN ĐOÁN
3.1. Hỏi bệnh
– Thời gian xuất hiện: mới bị hay đã lâu, xuất hiện từng lúc hay liên tục.
– Vị trí: một bên hay cả hai bên mũi.
– Mức độ: nhẹ, vừa hay nặng, ngạt hoàn toàn hay không hoàn toàn? Có tăng hay giảm the tư thế, thời gian, thời tiết… hay không?
– Các triệu chứng kèm theo: đau vùng mặt, chảy mũi, giảm ngửi, hắt hơi…?
– Tình trạng ngạt mũi có giảm khi được rỏ bởi các thuốc co mạch hay không?
3.2. Khám bệnh
3.2.1. Nhìn
Đối với hài nhi hay trẻ nhỏ thì quan sát khi bú hay ngủ:
– Không bú được lâu hay sặc, tím tái khi bú.
– Luôn há miệng khi thở, khi ngủ ngáy to.
– Ứ đọng chất xuất tiết ở mũi.
– Trẻ nhỏ nếu ngạt mũi kéo dài sẽ dẫn tới biến dạng khuôn mặt như: răng vẩu, cằm lẹm, mũi hếch,  cánh mũi bè ra…
3.2.2. Nghe
– Nếu ngạt mũi hai bên liên tục làm thay đổi giọng nói: không vang, giọng mũi kín…
– Sử dụng gương soi thường hoặc gương Glatzel đặt trước mũi để xem mức độ mờ gương do
hơi thở gây ra. Có thể sử dụng miếng bông hoặc sợi chỉ để trước mũi để xem có di động khi
thở không?
– Soi mũi: có thể khám bằng mở mũi thông thường hoặc nội soi hốc mũi nhằm đánh giá:
+ Tình trạng cuốn mũi: phù nề, sung huyết, thoái hóa… có đáp ứng với thuốc co mạch hay không?
+ Hốc mũi, ngánh mũi (đặc biệt là ngánh mũi giữa): xem có dịch mủ, nhầy ứ đọng không? có polyp không? cuốn mũi có thoái hóa không?…
+ Cửa mũi sau và vòm mũi họng: có dịch mủ, nhầy không? có polyp không? đuôi cuốn mũi có thoái hóa không? có khối u vòm không…?

4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Điều trị chung
– Làm thông thoáng hốc mũi: rửa mũi bằng natriclorid 0,9%, hút dịch mũi, xì nhẹ từng bên mũi.
– Rỏ mũi bằng các thuốc gây co mạch: ephedrin1-3%, naphtazolin 0,5-1% (không dùng cho trẻ sơ sinh), trong trường hợp này có thể thay thế bằng adrenalin 0,1% pha loãng.
– Xông hơi: hơi nước ấm có pha dầu thơm.
– Khí dung: kháng sinh, corticoid, thuốc co mạch.
4.2. Điều trị nguyên nhân
– Nội khoa: điều trị các nguyên nhân do viêm nhiễm mũi xoang, mũi họng:
+ Thuốc hạ nhiệt sử dụng khi có sốt cao, kéo dài.
+ Sử dụng kháng sinh chống nhiễm khuẩn và phòng bội nhiễm.
+ Thuốc chống dị ứng trong trường hợp viêm mũi dị ứng.
+ Chống viêm, giảm phù nề: dùng corticoid giảm liều dần hoặc alphachymotrypsin…
+ Nâng cao sức đề kháng của cơ thể: vitamin C, các thuốc tăng sức đề kháng…
– Ngoại khoa:
+ Tiêm các thuốc gây xơ vào cuốn mũi như: tiêm corticoid…
+ Nạo V.A: trong trường hợp viêm quá phát che kín cửa mũi sau.
+ Tạo hình lại các dị hình: sẹo hẹp, tịt lỗ mũi sau, dị hình vách ngăn…
+ Cuốn mũi thoái hóa: có thể đốt bằng điện nhiệt, nitơ lỏng hoặc laser…
Khi cần thiết có thể cắt cuốn mũi hoặc đốt cuốn mũi qua nội soi mũi.
+ Lấy bỏ dị vật hốc mũi và phẫu thuật lấy bỏ các khối u và polyp (bằng phẫu thuật kinh điển hoặc nội soi).
+ Cắt bỏ dây thần kinh Vidien (vi phẫu hoặc nội soi vùng hố chân bướm hàm).

5. PHÒNG BỆNH
– Tránh bị lạnh, ẩm đột ngột hay kéo dài.
– Giữ vệ sinh mũi họng: rỏ mũi hàng ngày (Natriclorid 0,9%), súc họng bằng nước muối nhạt
khi có dịch nhầy ứ đọng trong cổ họng.
– Tránh các tác nhân kích thích như: bụi, khói, hóa chất độc hại…
– Giải quyết các ổ viêm ở mũi họng.


[/tintuc]

Chứng Nhận Quốc Tế

BS BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

Đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về chăm sóc bệnh nhân.

Sứ Mạng & Trách Nhiệm

Sứ Mạng & Trách Nhiệm

Bác sĩ chuyên môn cao, thân thiện, hiệu quả, tiện nghi cao cấp

Dịch Vụ Đa Dạng

Dịch Vụ Đa Dạng

CHUYÊN KHOA TAI MŨI HỌNG và PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ

Cấp Cứu 24/7

Hỗ trợ

Hỗ trợ khi có chỉ định phải nhập viện điều trị nội trú tại các bệnh viện chuyên khoa

PHÒNG KHÁM TAI MŨI HỌNG VẠN PHÚC BA ĐÌNH

ĐỘI NGŨ BÁC SĨ & CƠ SỞ VẬT CHẤT

TIN TỨC